Phân tích kỹ thuật

Làm thế nào bắt đầu với phân tích kỹ thuật trong đầu tư chứng khoán

Phân tích cổ phiếu là công việc không thể thiếu trong đầu tư chứng khoán. Tùy theo khả năng trình độ, thời gian cũng như nhu cầu sử dụng, có thể có rất nhiều cách tiếp cận nghiên cứu, phân tích và ra các quyết định đầu tư khác nhau đối với từng chứng khoán riêng lẻ hoặc đối với cả danh mục đầu tư nói chung.

Hiện nay có 02 phương pháp phân tích đã được sử dụng phổ biến là phân tích cơ bảnphân tích kỹ thuật. Tuy nhiên, không ít nhà đầu tư còn nhầm lẫn về vai trò cũng như ứng dụng thực tiễn của hai phương pháp này. Vì vậy, việc hiểu rõ bản chất của hai phương pháp là cần thiết.

Trong chủ đề này, tôi đi vào từng bước để hiểu bản chất phân tích kỹ thuật (PTKT) là gì, cách ứng dụng ra sao trong việc phân tích 1 cổ phiếu. Với môn phân tích kỹ thuật này khá học thuật, nhiều khái niệm mới đối với nhà đầu tư mới, tôi chọn phương pháp tiếp cận bình dân nhất, cố gắng đơn giản hóa vấn đề cho dễ hình dung hơn. Trong bài viết, tôi có sử dụng nguồn bài viết về PTKT của bạn LinhTinh (Involio) với văn phong hài hước, dễ nhớ để tiếp cận vấn đề. Xin chân thành cảm ơn bạn.

1. Phân tích kỹ thuật và bói toán

Các bạn đã đi xem bói bao giờ chưa? Tôi đi rồi. Nhiều lần, nhiều nơi, từ diễn đàn này đến hết room khác. Mỗi thầy mỗi vẻ, nhưng thầy nào cũng giống nhau ở chỗ: “Tôi đã phán thì cấm có câu nào sai”.

Đối với PTKT khác bói toán ở chỗ: PTKT không bao giờ khẳng định thị trường ngày mai hay tuần sau sẽ thế nào. Nó chỉ giúp ta đưa ra một khả năng, kịch bản có thể xảy ra hoặc không xảy ra.

Trên cơ sở đó, ta sẽ lên 2 khả năng (kịch bản/kế hoạch):

  1. Hành động gì nếu xảy ra (kế hoạch chính), và
  2. Hành động gì nếu không xảy ra (kế hoạch dự phòng)

Các bác đừng bao giờ hỏi một ông thầy bói về kế hoạch dự phòng. Nhưng nếu các bạn gặp một chuyên gia nghiêm túc về PTKT, người đó sẽ luôn sẵn sàng trình bày với các bạn về kế hoạch dự phòng.

Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng: PTKT không phải là môn khoa học chính xác. Nó chỉ là công cụ giúp ta, dựa trên các dữ liệu quá khứ, đưa ra một khả năng cho tương lai.

Chỉ khi nào ta “quán triệt” được nguyên tắc đó, ta hãy đến với PTKT.

Có bạn sẽ thắc mắc: “Thế cái kế hoạch dự phòng ở đây cụ thể là gì?”. Đơn giản nhất ở đây đó là stop-loss (cắt lỗ).

Ở Tây, do được mua và bán trong phiên, câu chuyện stop loss là cực kỳ đơn giản. Mua 37, đặt stop- loss ở 36, lỡ có quyết định sai, ta chỉ lỗ có 1 giá, tức là chưa đầy 3%. Nhưng ở ta, do còn T+3, mức stop-loss khả thi nhất nhiều khi lên tới 15 – 20% hoặc hơn.

Loss đến thế thì ai dám đầu tư!

Không sao. Ta sẽ lồng kế hoạch dự phòng vào kế hoạch chính. Tức là, khi có tín hiệu của PTKT, thay vì tất tay 100%, ta sẽ chia ra nhiều lần mua, thí dụ, 20%. Mức cắt lỗ (sau T+3) bay 20% thì lỗ trên tổng vốn cũng chỉ là 4%.

20 lần lỗ 4% thì cũng đủ bay luôn tài khoản.

Nhưng đã là “chiên da” PTKT mà lỗ đến 20 lần liên tiếp thì … không nên chơi nữa. ^^

Tóm lại: “PTKT không phải là bói toán, nhưng cũng không phải là môn khoa học chính xác”.

2. Triết lý cơ bản của PTKT

Tôi có một người bạn. Rất mê hội họa. Kể cả tranh giun của Trạng Quỳnh. Có lần tôi hỏi hắn: “Thấy cái gì ở đó mà mê thế?”. Hắn trả lời: “Tất cả”. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy một tên nói năng còn linh tinh hơn cả mình.

Nhưng mà, PTKT cũng linh tinh như thế.

Bởi vì, PTKT cho rằng, mọi thứ đã được phản ánh hết vào giá, kể cả việc ông A, Chủ tịch HĐQT của công ty B, bị đi ngoài sau khi ăn hải sản đêm qua.

PTKT không quan tâm vì sao giá lại lên hoặc xuống mà chỉ quan tâm 2 chuyện:

  1. Giá hiện tại thế nào.
  2. Lịch sử diễn biến giá ra sao.

Trên cơ sở đó, chúng ta xây dựng mối liên hệ giữa hiện tại với quá khứ và lên kế hoạch cho một khả năng mà PTKT cho rằng có thể sẽ xảy ra trong tương lai.

Như các bạn đã thấy, cả 2 chuyện mà PTKT quan tâm đều được thể hiện trên đồ thị giá (chart). Vì vậy mà có người nổi tiếng đã từng nói: “Phân tích kỹ thuật rất thích hợp cho người vừa điếc, vừa lười”.

Từ câu nói nổi tiếng trên, chúng ta suy ra rằng, nếu đã định gắn bó với PTKT, nên nghễnh ngãng một tí thì tốt. Bởi vì, khi ngắm chart mà tai lại cứ vểnh lên nghe đủ tin tốt, xấu về công ty, sớm hay muộn cũng bị những thông tin đó chi phối, dẫn đến thiên lệch trong nhận định.

  • Cách dễ nhất để mất tiền là đem lòng yêu một công ty.
  • Cách dễ nhất để không kiếm được tiền là đem lòng ghét một công ty.

3. Mọi yếu tố đều được phản ánh vào giá

Vâng, mọi yếu tố đều được phản ánh vào giá. Triết lý ấy của PTKT, nhiều người đã biết.

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở đó, PTKT vẫn không có đất để tồn tại. Để tồn tại, PTKT cần một triết lý nữa không kém phần quan trọng đó là: giá không diễn biến một cách ngẫu nhiên.

Kết hợp lại, ta có một câu đầy đủ về triết lý của PTKT: Mọi yếu tố đều được phản ánh vào giá và giá không diễn biến một cách ngẫu nhiên.

Khi nói về diễn biến giá, ta không nói về một ngày mà nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm.

Khi thời gian theo dõi diễn biến giá đủ dài, các bác sẽ thấy giá hoặc là bò lên (để tạo thành up- trend), hoặc là bò xuống (để tạo thành down-trend), hoặc là đi ngang trong biên độ hẹp (thứ mà ta vẫn gọi là sideways, “dập dình không rét mà run”).

Có bạn sẽ cười: “Càng nói càng vớ vẩn. Giá thì chỉ có lên, xuống hoặc đi ngang. Chẳng nhẽ có cái loại giá đi giật lùi!”.

Không vớ vẩn đâu.

  • Lên mà tôi nói ở đây là xu thế lên theo thời gian, là up-trend.
  • Xuống mà tôi nói ở đây là xu thế xuống theo thời gian, là down-trend.
  • Và đi ngang mà tôi nói ở đây là xu thế tích lũy theo thời gian, để chờ vọt hoặc gãy đổ.

Không có trend, sẽ không kiếm được tiền. Và PTKT sinh ra để tìm trend trong một khung thời gian.

  • Nếu là daily trader (Giao dịch trong ngày): Tìm trend trong đồ thị của 1 ngày (tức đồ thị theo phút, giờ).
  • Nếu là short-term trader (Giao dịch ngắn hạn): Tìm trend trong daily chart hoặc weekly chart.
  • Nếu là long-term trader (Giao dịch dài hạn): Tìm trend trong weekly chart.

Giờ thì chắc các bạn đã thấy: nếu giá diễn biến một cách ngẫu nhiên, PTKT sẽ không có đất để tồn tại.

4. Một vài khái niệm cơ bản liên quan đến trend (pull-back, channel)

Phần này, tôi sẽ nói rất ngắn về một số khái niệm cơ bản. Sở dĩ phải nói vì tôi sẽ nhắc tới chúng khá nhiều trong các phần tiếp theo.

Pull-back (điều chỉnh)

Khi giá đang trong xu thế lên mà có đoạn nào đó quay đầu đi xuống, sau đó lại đi lên để hình thành đỉnh mới cao hơn đỉnh cũ thì cái đoạn “quay đầu đi xuống” đó được gọi là pull-back (dân ta gọi nôm là “điều chỉnh”).

Tương tự, khi giá đang trong xu thế xuống mà có đoạn nào đó quay đầu đi lên, sau đó lại đi xuống tiếp để hình thành đáy mới thấp hơn đáy cũ thì cái đoạn “quay đầu đi lên” đó cũng được gọi là pull-back.

Lấy ví dụ VNINDEX trong thời gian gần đây:

Các đoạn màu xanh được gọi là pull backs

Channel (Kênh giá)

Ta có “kênh giá” khi các đáy và các đỉnh của một đường zig-zag nằm hoàn toàn giữa 2 đường thẳng song song.

 

Mối liên hệ giữa thời gian và trend

Dưới đây là đồ thị hàng ngày của HT1, từ ngày 10/07/2018 – 10/09/2018. Trên đồ thị, có thể dễ dàng nhận thấy HT1 ở trong up-trend.

Tiếp theo, mời các bác xem đồ thị tuần của HT1 trong 3 năm. Theo các bạn thì HT1 đã thoát ra khỏi down-trend hay chưa?

Cái của nợ này up hay dow?

Tại sao em lại giới thiệu với các bác 2 đồ thị của HT1? Vì chúng ta đã nói chuyện với nhau về “khung thời gian” trong PTKT ở trên.

Là một nhà đầu tư ngắn hạn, chúng ta thường chỉ xem đồ thị ngày. Mà đúng là chỉ cần đồ thị ngày bởi HT1 đã tăng giá ~23% trong 2 tháng.

Nhưng, một nhà đầu tư dài hạn sẽ hết sức thận trọng chờ đợi khoảnh khắc HT1 vọt qua đường cản màu xanh trên đồ thị tuần. Bởi trên đó là cả một khoảng trống mênh mông cho đến tận … 100!.

5. Các loại đồ thị và ý nghĩa

Đây là đồ thị dạng “line” của SD7:

Là đồ thị đơn giản nhất, gồm các đoạn thẳng nối các mức giá (thường là giá đóng cửa) với nhau. Xem một đồ thị line, ta có thể dễ dàng nhận thấy xu thế của giá trong từng giai đoạn nhất định.

Tuy nhiên, diễn biến trong phiên thế nào thì ta không thấy trên đồ thị “line” được.

Đây cũng chính là đồ thị đó nhưng dạng “candlestick” (dạng nến):

Do người Nhật phát minh ra nhưng không phải để theo dõi giá chứng mà để theo dõi giá gạo và cá.

Đồ thị nến biểu thị giá mở cửa, giá đóng cửa, giá cao nhất và giá thấp nhất trong một khoảng thời gian (15 phút, một giờ, một phiên, một tuần v..v). Đồ thị nến của SD7 mà tôi đưa ra ở trên biểu thị các mức giá của một phiên.

Hình dưới đây mô tả các cấu phần của đồ thị nến. Như các bạn thấy, thân nến chỉ xuất hiện khi giá mở cửa chênh lệch so với giá đóng cửa:

Trong hình trên, khi giá đóng cửa thấp hơn so với giá mở cửa, người ta để thân nến màu đen (đặc). Ngược lại, nếu giá đóng cửa cao hơn so với giá mở cửa, người ta để thân nến màu trắng (rỗng). Ở ta, do đỏ là xuống mà xanh là lên nên mọi người hay dùng màu đỏ để thay cho màu đen và màu xanh lá cây để thay cho màu trắng.

Khi mà giá mở cửa = giá đóng cửa, thân nến không còn nữa. Thay vào đó là một vạch ngang. Đó chính là thứ mà dân PTKT gọi là Doji.

Ở trên các bạn đã thấy Doji hình chữ thập. Dưới đây là 2 kiểu Doji nữa:

Đồ thị nến, kết hợp với màu xanh hoặc đỏ của thân nến, nói được nhiều thứ lắm.

Một thân nến đỏ và dài, kết hợp với một cột khối lượng cao cao ở dưới, cho ta thấy một lượng cung khá lớn đã ép giá đi xuống một quãng thật dài sau khi mở cửa đầy hứa hẹn. Các tâm hồn trinh thám gọi đó là một phiên “oánh xuống”.

Một thân nến dài màu xanh là bài ca hy vọng của các loài chim cánh cụt. Họ sẽ nói “BBs đang oánh lên”.

Hai thân nến màu xanh và đỏ, cùng dài như nhau, đứng cạnh nhau đem đến sự “bâng khuâng” cho các tâm hồn đã rã rời vì chứng.

Đồ thị nến nổi tiếng lắm. Bởi người Nhật, với thói quen “user friendly” cố hữu, đã soạn sẵn các bộ nến khác nhau để mô tả các trạng thái khác nhau của thị trường. Thí dụ, cứ nhìn thấy bộ nến A xuất hiện thì sắp có đảo chiều, nhìn thấy bộ nến B xuất hiện thì sắp có … chia thưởng 2:1

Tôi đùa đấy. Làm tó có cái bộ nến nào mô tả được tình trạng in giấy bán lấy tiền.

Tôi sẽ chia sẻ riêng 1 bài về các mẫu hình nến thường gặp nhất.

Chả nói đâu xa, ngày 5/11/2009, họ nhìn thấy bộ nến sau đây của VNI, được gọi là Sao Mai Doji, một trong những mẫu hình tin cậy nhất của việc kết thúc một downtrend:

Nhưng sau đó là thế này đây, vật vã cho đến tận ngày 17/12/2009:

Đưa ra ví dụ trên, em không có ý coi thường các mẫu hình của đồ thị nến. Chúng có ích lắm, thậm chí rất có ích và cũng rất thú vị. Nhưng, tôi thực lòng khuyên các bạn, nếu mới bắt đầu, không nên lao ngay vào ngay những mẫu hình này.

Hãy nghiên cứu chúng độ 1 năm.
Sau đó kiểm chứng độ tin cậy của chúng trên thị trường Việt Nam khoảng 2 năm. Ngồi nghĩ để “điều chỉnh lại cho phù hợp” khoảng 2 năm nữa.
Sau đó thì nên .. dùng thử xem thế nào?
Dùng thử 2 năm, lại đem vào “vi chỉnh” thêm khoảng 2 năm nữa.
Tổng cộng là mấy năm rồi nhỉ? 9 à?
Không sao.
Lỗ 9 năm. Chỉ cần lãi 1 năm là gỡ lại hết

Bác nào muốn bắt đầu 9 năm trường kỳ đó thì có thể tham khảo các mẫu hình của đồ thị nến tại đây (chưa biết tiếng Anh thì coi như thêm 1 năm học tiếng Anh nữa là 10):

www.candlesticker.com

Vẫn là nó, nhưng dạng “bar” (cột) hay còn gọi là OHLC, viết tắt của các từ Open (mở cửa), High (giá cao nhất), Low (giá thấp nhất) và Close (giá đóng cửa):

Đồ thị dạng bar (cột) đơn giản lắm. Nó cũng cho ta thấy diễn biến trong phiên như đồ thị nến nhưng do nó gầy guộc nên trông không xi-nhê như đồ thị nến (lại nhớ màn hình phẳng rồi).

Dưới đây là một mẫu bar. Nguyên lý vẽ cao nhất – thấp nhất giống như đồ thị nến nhưng đóng cửa, mở cửa thì lại khác. Gạch bên trái luôn biểu thị giá mở cửa. Gạch bên phải luôn biểu thị giá đóng cửa.

Tóm lại, nên dùng đồ thị nào?

Dùng loại nào là tùy các bạn. Thấy thích cái nào, quen cái nào thì dùng cái ấy. Cụ Phái vẽ bút chì đẹp gấp 30.000 lần ông Chương vẽ sơn dầu. Tôi thấy hay dùng nhất vẫn là đồ thị nến.

6. Hỗ trợ và kháng cự, breakdowns, breakouts, trend and counter-trend traders

Hỗ trợ và kháng cự là hòn đá tảng của PTKT.

Như tôi đã nói với các bạn, với tôi, PTKT sinh ra là để tìm trend. Không có trend, em không kiếm được xèng.

Nhưng dùng cái gì để nhận biết trend bây giờ?

Hỗ trợ và kháng cự là một trong những công cụ có thể giúp ta nhận biết sớm về một possible trend.

Trong quá trình đi lên, có những lúc giá tạm thời dừng lại, nhì nhà nhì nhằng xung quanh một mức nào đó rồi .. quay đầu đi xuống (tức nhể).

Trong quá trình đi xuống cũng vậy, có những lúc giá tạm thời dừng lại, bật lên bật xuống một tí rồi .. quay đầu đi lên (thích nhể).

Đi lên, chạm một mức nào đó, quay đầu đi xuống thì người ta gọi cái mức đó là “kháng cự” (resistance).

Đi xuống, chạm một mức nào đó, quay đầu đi lên thì người ta gọi cái mức đó là “hỗ trợ” (support).

Tôi thích nôm na nên học một anh nổi tiếng ở đây, gọi “kháng cự” là “cản trên” và gọi “hỗ trợ” là “cản dưới” cho nó dễ hình dung.

Xem đồ thị dưới đây của PVD:

Trên đồ thị này, có thể thấy rất rõ sau khi bật từ 80 (đường số 4) lên 95 (đường số 2) vào nửa sau của tháng 8/2009, giá của PVD chững lại một thời gian rồi quay đầu đi xuống 90 (đường số 3). Khi đó, ta có thể gọi 95 là cản trên của PVD.

Tại 90, PVD bật lên lần 2, gặp cản 95, nhì nhằng 1 vài ngày rồi đi tiếp lên 100 (đường số 1). Không qua nổi 100, PVD quay đầu đi xuống, lưu luyến 95 một tí rồi ngồi bệt xuống 90 vào đầu tháng 10/2009. Nhưng, như bị thúc vào đít, PVD lại đứng lên test 100 lần 2. Đến lúc này, ta có thể gọi 90 là cản dưới của PVD.

Test 100 bất thành, PVD quay về 95, rồi 90. Do 90 đã thành “cản dưới”, PVD bật lên 1 phiên rồi rơiđộp một phát qua 90 về tận cản dưới 80. Tại đây, PVD bùng lên rất mạnh để test lại 95 nhưng không thành công, rơi về 80, bật lên 90 rồi lại rơi về 80 trước khi chia tách.

Ta nhận thấy:

  • Giá hình như không diễn biến một cách tình cờ. Rõ ràng là tại những ngưỡng nhất định, giá có những hành vi nhất định.
  • Cản không phải là sàn hay trần bê tông. Cứ có khoan Makita thật tốt, khoan được hết.
  • Đành rằng là khoan được hết nhưng dường như thời gian đổ bê tông càng lâu, cản càng cứng.
  • Cản trên hay dưới thay đổi theo thời gian. Thí dụ, đường 4, đầu tháng 8, là cản trên nhưng nếu bịvượt qua, lại trở thành cản dưới cho nửa đầu tháng 11. Tương tự, đường 2, tháng 10, là cản dưới nhưng nếu bị xuyên thủng, lại trở thành cản trên cho nửa sau tháng 11.
  • Khi đã vượt qua hay xuyên thủng được cản, giá thường có xu hướng pull-back để test lại các ngưỡng này (những chỗ em khoanh tròn).
  • Giá dường như có trí nhớ nên dù đã chia tách, vẫn cố gắng vận động theo các ngưỡng như trước đây (69-70 tương đương 92, 65 tương đương 86 và 60 tương đương 80).
  • Giống như trend-line, việc vẽ các đường từ 1 đến 7 là hoàn toàn theo ý muốn chủ quan. Một người khác, không linh tinh như em, có thể dịch đường 1 xuống một tí để tạo ngưỡng 96-98 thay vì 100.Đường số 2 cũng có thể dịch xuống một tí để có ngưỡng 92-93. Vì vậy, khi nói về một ngưỡng cản nào đó, ta nên suy nghĩ về nó như một khoảng giá hơn là một mức giá.

Có thể nói thêm một vài điểm nữa nhưng theo em, 7 điểm trên đây là những điểm đáng chú ý nhất. Em sẽ lần lượt bình từng điểm.

P.S.: Màn hình phẳng nhà em vừa ghé qua, hỏi: “Thế hôm nay PVD là pull-back sau khi thủng 60 hayđang chuẩn bị bật lên như hồi giữa tháng 12? Giá 60 là tương đương 80 đấy, cản cứng đấy”.
Đúng là cái quân 2D

Giá không diễn biến một cách tình cờ. Tại những ngưỡng nhất định, giá thường có những hành vi nhất định.

Tại sao lại thế?

Vì bản tính của con người là không đổi, hay nói đúng hơn là có thay đổi nhưng … chậm hơn rất nhiều so với giá chứng khoán.

Khi PVD bay từ 80 lên 95 trong vòng 4 phiên (giữa tháng 8/2009), do nó bay quá nhanh nên nhiều người bắt hụt. Họ có tiếc không? Chắc chắn là có. Họ có hy vọng là nó sẽ quay lại 80 không? Chắc chắn là có. Thế mà nó chả chịu quay lại gì cả, còn dập dình như trêu ngươi ở mức giá 94-96 những 8 phiên liền.

Ngày 07/9/2009, PVD sụt xuống 87.5, mất gần 10% so với giá 95. Những tâm hồn tiếc nuối mức giá 80 cho đây là cơ hội, lao vào và tham gia đẩy PVD lên đỉnh cao mới 105 vào ngày 17/9/2009.

Ngày 02/10, sau gần một tháng, PVD từ đỉnh 105 quay trở lại mức 90. Rẻ quá, gần 1 tháng rồi mới có giá đó. Thế là lại lao vào và đẩy PVD lên trở lại 100 vào ngày 15/10.

Cái tâm lý “rẻ rồi”, “rẻ quá” ấy là một trong những yếu tố góp phần tạo ra cản dưới.

Một mức giá được coi là “rẻ rồi”, “rẻ quá” bởi người ta so sánh nó với mức giá thấp hơn gần nhất (latest lower low). Trong ví dụ trên, ngày 2/10 được so với ngày 7/9 và sau đó, các ngày 27 và 29/10 lại được so với ngày 2/10.

Ngày 2/11, khi PVD xuyên thủng 90, người ta lại đi tìm một mức giá thấp hơn gần nhất để so sánh. Trên đồ thị, có thể thấy rất rõ đó là mức 80 (cuối tháng 7, đầu tháng 8). Thế là, như có phép màu, ngày 11/11, PVD bật lên từ giá 80

Nếu tâm lý “rẻ rồi”, “rẻ quá” góp phần tạo ra cản dưới thì tâm lý “ước gì hòa vốn” góp phần tạo ra cản trên.

Ngày 16-17/9, khi PVD bật mạnh từ 95.5 lên 105, không ít người mắc cạn. Sau đó, khi giá PVD đi xuống 90, họ chỉ “ước gì” là họ đã không mua PVD. Cầu được ước thấy, con cá tưởng đã mất lại quay về vào ngày 15/10. Thế là họ bán. Và góp phần tạo ra cản trên cho PVD tại mốc 100. Điều tương tựxảy ra khi PVD quay lại mốc 90 vào ngày 1/12 và gần đây nhất là mốc 70-75 (tương đương 93-100) vào ngày 05/01/2010.

Tâm lý con người là như thế. Và khi nhiều người cùng hành động theo tâm lý ấy, họ vô tình tạo ra các loại cản trên và cản dưới.

Chúng ta có hiểu tâm lý ấy không? Có.
Chúng ta có muốn tận dụng tâm lý ấy không? Có.
Cho nên, chúng ta sẽ lao vào mua/bán tại những chỗ mà chúng ta cho là có cản dưới/cản trên, đúng không?
Đúng quá

Thế là ta tiếp tay cho kẻ gian rồi, biến chỗ mà chúng ta nghĩ rằng “có cản” thành “cản cứng”, “cản thực sự” còn gì.

BBs và kẻ gian rất thích chúng ta nghĩ như thế.

Cản không phải là sàn hay trần bê tông. Cứ có khoan Makita thật tốt, khoan được hết.

Vâng, dùng khoan. Không dùng đầu nhé.

Như trên tôi đã nói, cản trên và cản dưới không phải là thứ có thật, sờ nắn được. Cản trên và cản dưới là do con người, dưới tác động của các quy luật tâm lý, tạo ra.

Không có gì bảo đảm là giá cứ chạm cản dưới là bật lên hay cứ chạm cản trên là quay đầu. Nếu dễ như thế, TTCK đã không có đất để tồn tại và cũng chẳng có tôi ngồi đây để nói phét.

Là sản phẩm do con người tạo ra thì con người cũng có thể phá được. Phá cản trên, dùng tiền. Phá cản dưới, dùng cổ.

Ta lùi ra một chút để ngắm đồ thị 1 năm của PVD:

Nhìn trên đồ thị này, có thể thấy rất rõ là đã 6 tháng nay, PVD đang dao động trong một dải hẹp. Nếu lấy lằn đen trung tâm làm mốc thì hai lằn xanh ở trên và dưới có độ lệch chỉ đâu đó khoảng 10%. Với độ lệch nhỏ như thế, với KLGD ổn định ở mức thấp như thế, người ta nói PVD đang trong thời gian tích lũy.

Tích lũy để làm gì?

Để chuẩn bị phá hoặc là cản dưới (break-down), hoặc là cản trên (break-out).

Kẻ kiên nhẫn sẽ chịu khó mua – bán PVD trong thời gian này. Xuống 80 múc, lên 92 – 95 bán, ăn khoảng 10-20% mỗi lần. Tôi không kiên nhẫn, tôi lì đòn, tôi chờ breakdown hoặc breakout

Ta lại lùi ra thêm chút nữa để ngắm đồ thị 2 năm của PVD:

Trên đồ thị này, ta thấy thêm đường màu đỏ. Đường này giải thích cho ta vì sao PVD lại có một ngưỡng cản trong vùng giá 90. Ngưỡng cản này được tạo ra suốt từ tháng 5/2008 (sau khi chia tách),được test những 5 lần tại các điểm 2-3-4-5-6. Do thời gian tồn tại quá lâu (16 tháng) nên khi PVD lần đầu tiên vượt qua cản này vào nửa sau tháng 8/2009, các bác có thể thấy nó đã cần một lượng tiền lớn như thế nào (đủ để nuốt ngót nghét 7 triệu cổ trong sàn và ngoài sàn).

Qua được một ngưỡng cản như thế, kiểu gì cũng mệt nên chắc chắn sẽ có pullback. Nhưng cản tiếp theo (100) thì PVD đầu hàng. Mũi khoan đã cùn. 2 lần thử, 2 lần failed. Xèng chứ có phải vỏ hến đâu mà lắm thế.

Thế thì thứ gì lắm? Cổ. Nhiều vô biên. Vì in được.

Nên phá cản dưới thường là dễ hơn cản trên. Các bạn thấy đấy, xuyên từ dưới lên qua 90 thì khó chứ xuyên từ trên xuống qua 90 nó làm có 1 nhát là xong. Chỉ cần ngót nghét 700K cổ vào ngày 3/11. Lưu luyến pullback hử ? Tiếp cho nhát nữa 350K cổ ngày 6/11. Chết từ từ.

Nhưng cản dưới nữa (80) thì hơi khó, bởi nó quá gần với vùng giá 72 (đường màu đỏ đậm), vùng hậu phương vững chắc của PVD. Để phá cản này, tốn cổ lắm, nhất là khi kinh tế đang phục hồi, không khéo mất cổ vào tay bà già như chơi.

Tóm lại, cản sinh ra là để bị phá. Chưa phá được thì cổ sẽ tích lũy và thường là sau một thời gian tích lũy đủ dài, nếu cản bị phá, cổ sẽ hoặc là rơi, hoặc là thăng, khá xa.

Đánh giá độ vững của cản:

“Thời gian tìm hiểu càng lâu, cuộc sống gia đình sau này càng hạnh phúc”.

Vâng, Herbert George Wells – tiểu thuyết gia viễn tưởng vĩ đại người Anh – đã từng nói một câu như thế. Công nhận người nước ngoài họ giỏi hơn dân mình. Viết truyện viễn tưởng đã hay, nói chuyện viễn tưởng còn hay hơn nữa.

Thở ra câu nào là câu ấy thành Science Fiction

PTKT có giống truyện viễn tưởng không? Rất giống. Vì 2 lý do:

Thứ nhất, PTKT cũng có một câu na ná như thế: “Thời gian hình thành cản càng lâu, cản càng cứng”.

Thứ hai, khi ta hỏi lại: “Có thật không đấy?”, PTKT đưa ra câu trả lời giống hệt các tiểu thuyết gia viễn tưởng: “Nothing is impossible!”.

Độ vững của cản tỷ lệ thuận với thời gian hình thành, theo tôi, cũng là hợp lý thôi. Cái này, em không nói, nhiều bác cũng đã biết.

Cái mà em muốn bàn ở đây là yếu tố “thời gian”. Chúng ta cùng xem qua đồ thị của AGF:

Trên đồ thị này, có thể thấy mức cản 30 của AGF là khá chắc chắn bởi nó được bắt đầu từ tháng 6/2009, tẹt đi tẹt lại nhiều lần trong tháng 9 và đầu tháng 10, sau đó tẹt tiếp 3 lần nữa trong khoảng thời gian từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 12, tổng cộng khoảng 7 tháng, có thể nói là khá cứng.

Ta lùi xa một tí:

Giờ thì ta hiểu vì sao cái mốc 30 lại cứng thế. Hóa ra nó đã hình thành từ tháng 7, tháng 9/2008!

Trong ví dụ của AGF, ta thấy yếu tố “thời gian” được thể hiện qua các lần ‘tẹt đi tẹt lại”. Khoảng thời gian hàm chứa các cú “tẹt đi tẹt lại” ấy càng dài, cản càng có xu hướng cứng hơn.

Trong ví dụ tiếp theo, khoảng thời gian tuy ngắn hơn nhưng do giá dao động trong một phạm vi rất hẹp nên cũng tạo ra một vùng cản hẹp có độ cứng khá lớn.

Vùng 14-16 của BHC cứng đến nỗi cả tháng 11/2009, khi mọi CP đều mất giá kha khá, BHC vẫn daođộng trong khung này, chỉ chịu đầu hàng sau 3 phiên có KLGD lớn hơn bình thường. Và, như các bácđã thấy, khi bị mất cản cứng 14, nó đã rơi thêm gần 30% mới chịu dừng.

Cản cứng như thế mà khi vượt (đầu tháng 10/2009) lại không kèm theo mức tăng đột biến của KLGD. Yếu tố này làm ta nghi ngờ khả năng BHC sẽ tạo được đỉnh mới cao hơn đỉnh tháng 6/2009. Do đó, khi thấy BHC vật vã vài ngày ở ngưỡng 20-21, quyết định duy nhất đúng của ta vào thời điểmđó là: phắn

Hai ví dụ trên cho ta thấy 2 cách mà “thời gian” có thể tác động vào độ cứng của cản. “Thời gian” và “cản” còn có mối liên hệ nào nữa?

Còn một mối liên hệ nữa, đó là: khung thời gian mà các bác dự kiến tiến hành một thương vụ.

  • Nếu các bác định mua bán để ăn chênh lệch ngay trong phiên, một ngưỡng cản “nhè nhẹ” đã có thể coi là “cản cứng”.
  • Nếu các bác định lướt sóng T+3, một ngưỡng cản “ro rõ” trên đồ thị ngày 6 tháng có thể coi là cản cứng.
  • Nếu các bác định ôm 1 vài tháng, một ngưỡng cản trên đồ thị tuần có thể sẽ có ích hơn bởi 5 vạch trênđồ thị tuần tương đương với 25 vạch trên đồ thị ngày.

Em sẽ nói kỹ hơn về KLGD tại mục KLGD. Ở phần này, liên quan đến KLGD, em chỉ muốn nhấn mạnh 2 ý:

+ Vượt cản trên mà không kèm theo KLGD tăng đột biến, nên thận trọng.
+ Vỡ cản dưới mà KLGD lại tăng, nhất là ở ngày thứ 2 sau khi vỡ cản, coi chừng. An toàn nhất là chuồn thật nhanh khi giá vươn lên tẹt lại cản vừa bị mất (pull-back). Trong ví dụ trên của BHC, đó là phiên giao dịch thứ 2 của tháng 12/2009.

Tuy nhiên, không có cũng không sao bởi quy mô giao dịch của Việt Nam còn khá nhỏ, thị trường còn quá nhiều khuyết tật (không cho T+0, hạn chế biên độ, 2 đợt khớp lệnh định kỳ v..v.) nên đồ thị ngày của tuyệt đại đa số các mã trông .. rất linh tinh. Nói chung là không dùng được. Chẳng đẹp được như cái này đâu:

Khi đã bị vượt qua, cản trên trở thành cản dưới; khi đã bị xuyên thủng, cản dưới trở thành cản trên

Em lấy lại đồ thị của AGF. Đồ thị này minh họa rất tốt cho việc một cản (30) thay đổi từ cản trên thành cản dưới như thế nào.

Việc này nó cũng đơn giản, nhiều bác đã biết nên em không nói gì thêm. Em chỉ muốn trình bày cách nhìn của em về sự thay đổi cản dưới – cản trên này.

Hãy coi VNI, khi đi lên, là một cuộc tấn công. Trên đường tấn công, ta phải lần lượt chiếm các cứ điểm của địch. Một cứ điểm của địch, sau khi bị ta chiếm, sẽ trở thành của ta và là hậu phương vững chắc cho ta khi ta lui binh.

Khi ta lui binh, tại từng cứ điểm, ta sẽ cầm cự. Nếu cứ điểm đó bị mất vào tay địch thì lần sau, khi tấn công trở lại, ta lại phải nghĩ cách chiếm lại cứ điểm này.

Tưởng tượng như thế vừa dễ hình dung việc cản trên – cản dưới đổi chỗ cho nhau, vừa rút ra được nhiều thứ hay lắm.

Thí dụ, ta biết Xuân Lộc là cửa ngõ Sài Gòn, đánh vào đây chắc là sẽ rất khốc liệt. Thế mà ta chiếm ngon ơ. Chả tốn một sĩ, một tốt.
Nếu là tướng cầm quân, các bác sẽ nghĩ gì?
Bỏ mẹ, hay là nó đem quân vòng ngả Tây Ninh đánh vào mạn sườn mình

VNI hôm kia ào một phát qua 48x dễ quá nhể
Giống hệt hôm địch ào một phát đẩy ta ra khỏi cứ điểm 48x ngon quá nhểTa chứ có phải linh tinh đâu

Đại khái thế

Tình cũ không rủ cũng tới: pull-back!

Với tôi, các cú pull-backs là một trong những nét đẹp nhất của PTKT. Trước khi đến với cổ phiếu, tôi không nghĩ cái đám đông “quân hồi bông phèng” lại có thể tạo ra một tác phẩm đẹp đến như vậy. Tôi đã giải thích thế nào là pull-back ở phần trước. Kết hợp với cản, ta có thể nói nôm na thế này:

  • Giá vượt lên trên cản rồi, lại vòng lại tẹt một phát hoặc vài phát, đó là pull-back.
  • Giá đã xuyên xuống dưới cản, lại vòng lên sờ một phát hoặc vài phát, cũng là pull-back.

Tôi nghĩ không cần phải có đồ thị minh họa nữa vì tới giờ này, các bác đã thấy những mấy cái rồi.

Hãy tưởng tượng một trận thư hùng, quân xanh ào vào đẩy quân đỏ ra khỏi cứ điểm. Quân đỏ dạt ra bên ngoài, chỉnh trang lại đội hình rồi lại tiến vào đẩy lui quân xanh. Hai bên cứ thế giằng co và cuối cùng, một bên thắng cuộc, thừa thắng xông lên đuổi bên kia tới tận cứ điểm sau và trận đánh lại tiếp diễn.

Tại sao lại có pull-back? Theo cá nhân tôi, có thể vì mấy lý do (chưa đầy đủ đâu nhé):

  • Mệt. Nghỉ dưỡng sức.
  • Chiếm quá dễ. Ngại cạm bẫy. Giả đò rút để dụ địch lộ bẫy. Chắc không có bẫy mới tiến tiếp. Nói sâu xa hơn gọi là test lại thị trường.
  • Chiếm được rồi, giả đò bị thương nặng để dụ tàn quân ra tiêu diệt nốt. Thịt xong tụi này thì tiến tiếp.
  • Xèng ít nhưng vẫn muốn ủn. Thế là cứ vừa mua, vừa bán. 100 xèng lúc đầu thành 100 cổ, 100 cổ đó đảo ra thành 110 xèng, 110 xèng lại đảo thành 120 cổ, cứ thế cuốn chiếu đi lên và dừng lại ở điểm cuối cùng là .. xèng.

Các bác ngắm pull-back đã nhiều, có thể phân biệt được lúc nào là “mệt”, lúc nào là “chả vờ”, lúc nào là “xèng ít mà lại muốn ủn ỉn” không?

Nếu là chả vờ, các bác có nhìn ra cách mà họ chả vờ không?

Tôi chịu. Tôi chứ có phải cái đầu gối của các bạn đâu.

Các bạn khoan thắc mắc? Thế thì mời các bạn xem cái hình của SD7 đã nhé. Chú ý cách đi lên theo kiểu bậc thang của SD7 trong tháng 8, tháng 9/2009 và các cột KLGD được em khoanh tròn:

4 pull-back đã đủ để đem lại cho pull-back sự quyến rũ huyền bí, thách thức trí tò mò và ước vọng khám phá của hàng vạn chàng trai. Nhưng, cái hay của pull-back đâu chỉ có từng ấy. Như củ sâm Cao Ly, pull-back đem lại những công dụng hết sức thiết thực mà chả cần ai phải rõ bên trong nó hàm chứa những gì.

Pull-back giúp ta kiềm chế lòng tham khi thị trường tăng. Pull-back giúp ta tĩnh tâm, không panic khi thị trường giảm.

Đã vượt lên trên mà biết là sẽ quay lại để tẹt một phát thì việc quái gì phải mua ở trên. Không mua ở trên thì không bị mang tiếng là tham, là ngu, các bác nhở.

Đã chui xuống dưới mà biết là sẽ vòng lên để thơm biệt ly một nhát thì việc quái gì phải cắt đánh nhoằng một cái cho nó đau hết cả .. xương chậu. Không cắt “đánh nhoằng một cái” thì vừa không đau xương chậu, vừa được tiếng là người bình tõm, không pa líc, các bác nhở.

Pull-back, kết hợp với cản, có thể tạo ra 4 cách chơi (trong bối cảnh uptrend):

  1. Mua khi giá vừa vượt cản (vừa vượt nhé)
  2. Mua khi giá đang trong giai đoạn pull-back
  3. Mua khi giá vừa hoàn thành xong pull-back
  4. Mua khi giá đã hoàn thành xong pull-back và vừa vượt qua đỉnh cũ.

Các bạn chọn cách chơi nào? Theo các bạn thì cách chơi nào là an toàn nhất? Tôi chọn cách thứ 5

P.S quan trọng:

  • Giống như cản, pull-back không phải là thứ nhất thiết sẽ xảy ra. Vì vậy, khi không thấy pull-back, hãy chửi thị trường, đừng chửi tôi, tội nghiệp.
  • Đáng phải có pull-back mà lại không có pull-back, coi chừng. Coi chừng cái gì? Tôi chịu. Đấy là tôi cứ phán bừa đấy. Bạn nào biết thì bảo tôi.
Cản và cổ phiếu chia tách

Chia tách đã trở thành chuyện thường ngày ở huyện trên TTCK Việt Nam. Bên cạnh các vấn đề “linh tinh” mà báo chí đã nêu, chia tách còn làm cho dân PTKT nghiệp dư khá lúng túng bởi nó đảo lộn hết các loại đồ thị, các loại chỉ số mà người ta đang theo dõi bấy lâu.

Có 2 chuyện cần lưu ý:

Một là, nếu ta theo dõi một CP nào đó đã lâu, các mức giá, ngưỡng cản trước đây có thể đã hằn quá sâu vào trí nhớ khiến ta đôi lúc bị hiện tại đánh lừa. Ví dụ, ta có thể có cảm giác sai lầm là giá hiện tại đang “quá rẻ”, hay giá đang tiến tới một ngưỡng cản “quan trọng” trong khi trên thực tế không phải vậy.

Hai là, với những CP mà ta mới tiếp cận lần đầu, việc xem một đồ thị không điều chỉnh sau chia tách có thể làm ta “loạn chiêu”, dẫn đến những nhận định chẳng giống ai.

Hay nhất là sử dụng các website có cung cấp đồ thị điều chỉnh. Đây chưa hẳn là phương án tối ưu bởi đồ thị điều chỉnh sẽ làm ta mất đi cái “feel” về giá của CP trong quá khứ. Tuy nhiên, riêng với việc tính toán các ngưỡng cản, dùng đồ thị đã điều chỉnh tốt hơn là dùng đồ thị chưa điều chỉnh.

Kinh nghiệm của tôi là bỏ qua các mã vừa chia tách, đợi khoảng vài tháng cho đồ thị và các loại indicators ngắn hạn của nó trở lại bình thường rồi mới trade. Trên sàn thiếu gì cơ hội đâu.

Một việc nữa nên lưu ý là khối lượng giao dịch:

Một CP từ chỗ “hiếm” sẽ trở thành “ê hề” sau vài lần chia tách. Việc tính toán khối lượng khi cổ đó vượt cản, pull-back hay phân phối, vì vậy, cần có sự điều chỉnh phù hợp. Cái này nói để lưu ý thôi, không đòi hỏi phải chính xác tuyệt đối.

Vẽ cản là việc làm đầy tính chủ quan

Nếu là vẽ các đường ngang, thật sự không có cách nào khắc phục được tính chủ quan trong nhận định của từng người. Có người thấy phải dịch lên 1-2 giá mới đúng, có người lại cho rằng phải dịch xuống 1-2 giá mới chuẩn.

Có 3 cách có thể giúp ta giảm bớt chuyện cãi nhau.

  • Một là, hãy cố gắng kẻ đường cản ngang sao cho nó đi qua càng nhiều mức giá đóng cửa càng tốt bởi với nhiều chuyên gia PTKT, giá đóng cửa là giá quan trọng nhất trong ngày.
  • Hai là, xem thêm đồ thị tuần. Nếu đồ thị ngày và đồ thị tuần cho cùng một kết quả (một đường ngang) thì có thể yên tâm sử dụng đường ngang đó.
  • Cuối cùng (và cũng là đơn giản nhất), hãy coi ngưỡng cản là một khoảng giá thay vì một mức giá.

Cách nào thì cách, tôi nghĩ cần bảo đảm sự nhất quán trong phương pháp kẻ. Một chiếc xe có tay lái hơi lệch một chút mà đi quen thì vẫn hay hơn là mỗi ngày đi một kiểu xe khác nhau.

Tóm lại các ý quan trọng

Câu chuyện về cản tương đối dài nên tôi xin dành mục sau cùng này để tóm tắt lại, nhấn mạnh những điểm mà tôi cho là quan trọng nhất.

Thứ nhất, cản và pullback không phải là thứ chắc chắn sẽ xảy ra. Ta chỉ nên xem chúng là những “khả năng” có xác suất xảy ra cao. Tuyệt đối không được “tin chắc” vào chúng bởi thứ gì mà ta thấy được thì hàng nghìn, hàng vạn người khác cũng thấy được. Phải đề phòng chuyện “tương kế tựu kế”, “chim sẻ – bọ ngựa – ve sầu”.

Cách đề phòng tương đối đa dạng (chờ đầy đủ các dấu hiệu, đánh theo kiểu “gửi quân thăm dò”, chờ xu thế của VNI, chơi 2 tài khoản để thực hành giải pháp “cut-loss”). Hãy chọn cho mình giải pháp đề phòng thích hợp nhất. Cái này không ai khuyên ai được.

Thứ hai, cản sinh ra là để bị phá, như cứ điểm sinh ra là để bị chiếm trong chiến tranh. Cách chiếm, thời gian chiếm, kế chiếm v..v, vì vậy, có thể cho ta thấy rất nhiều điều. Hãy theo dõi các ngưỡng cản và phát hiện những điều bất thường, thí dụ như đáng lẽ phải pullback mà lại không pullback, đáng lẽ phải có KLGD lớn mà lại không thấy KLGD lớn hoặc KLGD lớn xuất hiện trước khi vượt cản chứ không phải sau khi vượt cản v..v.

Thứ ba, cản và pullback là công cụ giúp ta bình tĩnh trước thị trường chứ không phải chất kích thích làm ta tham lam. Đừng tìm hiểu về cản để chủ động biến mình thành counter-trend trader, lao vào tại bắt tại “cản dưới” rồi bán tại “‘cản trên”. Có lúc trúng, nhiều lúc sẽ trật. Nên kiên nhẫn và nâng mức độ chú ý lên tối đa tại các ngưỡng cản. Cứ để cho 2 bên đánh nhau, bên nào thắng thì ta theo. Pullback thành công là một trong các indicator cho thấy bên nào thắng.

Nhìn chung, không nên mua một CP đang trong thời kỳ tích lũy. Nó đã tích lũy thì sẽ đến lúc nó phá cản. Tôi nghĩ chỉ nên theo dõi nó, đừng mua nó bởi có biết nó sẽ phá cản theo hướng nào đâu mà mua.

Thứ tư, cần xác định rõ ta đang trade trong time-frame (khung thời gian) nào? Nếu là phe phẩy trong phiên (hiện tại Việt Nam có phái sinh), cách nhìn cản phải khác đi một chút so với lướt sóng T+ hoặc buy and hold vài tuần, vài năm.

Thứ năm, cản không chỉ là các đường kẻ ngang. Ngoài các đường kẻ ngang, còn một số đường khác có thể dùng để tính toán ngưỡng cản, chẳng hạn như đường trend-line, hai biên của dải Bollinger, các đường SMA 20-50-150-200, các ngưỡng Fibonacci,…. Thứ nào cũng có mặt mạnh và mặt yếu của nó. Biết cả thì tốt. Không biết cũng không sao. Kinh nghiệm của tôi cho thấy chỉ cần các đường kẻ ngang là đủ.

PTKT, theo tôi, càng đơn giản càng tốt. Đừng biến đồ thị của mình thành một bát bún riêu còn mình thì thành chú hề ăn bún riêu.

7. Lạm bàn về ý nghĩa của khối lượng giao dịch

Nếu chịu khó lang thang trên các diễn đàn chứng khoán Việt Nam, các bác sẽ thấy hàng ngàn, hàng vạn bài viết ngắn có, dài có, nghiêm túc có, linh tinh có về sóng Elliott, về Fibonacci, về Nến, về Pattern, về Indicators, về Oscillators v..v và v..v.

Nói chung là về mọi thứ, trừ một thứ. Đó là khối lượng giao dịch.

Rất ít bài viết bàn sâu về khối lượng giao dịch như là một chỉ báo độc lập.

Người ta chỉ nói về nguyên tắc chung, hay xa hơn một tí thì nói về KLGD như là một tín hiệu để support và confirm cho trend và khuôn mẫu giá.

Không ai đi sâu phân tích ý nghĩa tự thân của KLGD và nâng nó lên thành lý thuyết cả.

Bởi vì, những người biết thì sẽ không bao giờ nói. Còn những người nói thì thường là không biết gì. Giống tôi đây. ^^

Do KLGD được tạo ra cùng lúc bởi 2 hành vi bán và mua nên về nguyên tắc, nếu chỉ nhìn vào cột KLGD trên đồ thị, ta không thể nói “bán nhiều hơn mua” hay “mua nhiều hơn bán”.

  • Giá đang trong xu thế lên, KLGD tăng, người lạc quan sẽ tự nhủ rằng “Mua nhiều nhể” trong khi kẻ bi quan than thầm là “Bán nhiều quá”.
  • Giá đang trong xu thế xuống, KLGD giảm, kẻ bi quan sẽ nói rằng “Chẳng có cầu” trong khi người lạc quan lại khấp khởi mừng thầm “Cung đang cạn kiệt”.

Khi tôi nói “những người biết sẽ không bao giờ nói” còn “những người nói thì thường là không biết gì”, tôi không có ý coi thường ai cả.

Bởi vì, chỉ những người nằm trong chăn mới biết chăn có rận.

Để đưa một CP (thậm chí là cả VNI) đi lên, họ liên tục bán và mua. KLGD, vì vậy, cứ thế mà tăng.

Một hôm nào đó, họ giảm khối lượng giao dịch của chính họ để test cầu.

  • Nếu cầu vẫn ổn, quá trình đi lên sẽ tiếp diễn cho đến lượt test sau.
  • Nếu cầu không ổn, họ biết họ phải làm gì. Quá trình đi lên sẽ vẫn tiếp diễn nhưng chỉ họ biết là đỉnh đã gần kề.

Hay là, cổ phiếu liên tục tăng trần, cầu trần chất đống, các bác ngồi vi vu ngắm cảnh, chẳng ai muốn bán. KLGD cứ thế giảm dần.

Rung một phát, KLGD tăng vọt. Ta đua nhau phắn bởi rõ là “phân phối đỉnh”. Nào ngờ chúng nó đểu, chúng nó rũ bỏ mình. Mình vừa lao ra thì tàu phi tiếp. KLGD lại giảm dần. Họ sẽ hé cửa cho mình chen vào. Chắc chắn rồi.

Lần này thì mình được đi tàu thật.

KLGD là trong tay họ.

Tiết giảm giao dịch để đo cầu thì chỉ có họ mới biết họ đã tiết giảm bao nhiêu và lượng cầu không phải của họ là bao nhiêu.

Rung cây để dọa khỉ thì chỉ có họ mới biết bao nhiêu khỉ là của nhà họ và bao nhiêu khỉ là của nhà bên cạnh.

Các bác có nghĩ là họ sẽ gọi các bác ra để thủ thỉ vào tai các bác những thông tin đó không?

Thế mà chưa chi đã tự ái khi nghe tôi nói “những người biết sẽ không bao giờ nói” còn “những người nói thì thường là không biết gì”.

Nước lên thì thuyền nổi

Này các bạn, cái bọn “nằm trong chăn mới biết chăn có rận” ý, chẳng nhẽ ta lại chịu thua chúng?

Tôi là tôi cứ phải chui vào. Có tí toáy bắt được con rận nào hay không thì chưa biết, cứ phải chui vào cái đã.

Có một người (nổi tiếng lắm vì chuyên bị kẻ trộm hỏi thăm) đã từng phán: “Kẻ trộm, dù khôn đến mấy, bao giờ cũng để lại dấu vết”.

Gần đây, tôi hỏi bác ý là đã hệ thống hóa xong các dấu vết ấy chưa. Nếu xong rồi thì cho em nghía tí. Bác ấy bảo bác ấy đã chuyển ngành.

Bây giờ bác ấy là .. kẻ trộm.

May mà lúc gặp bác ý, trong túi em không có xu nào

Cái bọn chui trong chăn cũng thế. Kiểu gì cũng để lại dấu vết.

Dấu vết mà hòa đồng với môi trường xung quanh thì ta có nhìn thấy được không? – Không.

Vậy ta sẽ nhìn thấy dấu vết khi nào? Khi nó không hòa được với môi trường, khi mặt cỏ màu xanh mà vết bùn lại là màu xám, khi tường nhà ta màu trắng mà dấu tay của chúng lại là màu đen.

Ta đi tìm dấu vết ở chỗ có sự khác thường so với lẽ thông thường. Muốn làm được việc ấy, trước hết, ta phải hiểu cái lẽ thông thường. Vậy cái lẽ thông thường của KLGD (hay nói đúng hơn là của mối quan hệ giữa KLGD và giá) là gì? Là nước nổi thì thuyền phải nổi và nước chìm thì thuyền cũng phải chìm.

Giá đang trong xu thế tăng thì KLGD cũng phải tăng. Đó là lẽ thông thường. Bởi vì, giá càng tăng thì càng nhiều cậu, nhiều mợ muốn ấn nút bán. Để giá tăng được tiếp, cầu phải đủ lớn để nuốt dần và nuốt hết các cậu, các mợ ý.

Giá trong xu thế tăng, nếu tăng nhanh quá, có thể làm cho cầu e ngại và vì vậy, tạo nên các cú “điều chỉnh”. Để cho giá tăng được tiếp, lượng giao dịch trong thời gian điều chỉnh phải giảm xuống. Nếu tăng thì cầu đã sợ lại càng thêm sợ, trend đứt mất còn đâu.

Tóm lại, khi thị trường đang ở trong giai đoạn bullish thì KLGD phải tăng lên khi giá tăng và giảm đi khi giá điều chỉnh. Đó là lẽ thông thường.

Có bạn nổi hứng bảo: “Suy ra, khi thị trường đang ở trong giai đoạn bearish, KLGD phải có xu hướng tăng khi giá giảm và yếu đi khi giá nỗ lực vòng lại các đỉnh cao trước đây”.

Sao mà đời tôi khổ thế.

Trong lúc tôi nghỉ giải lao, mời các bạn xem tạm cái đồ thị tuần của PVA. Đừng hỏi gì vội, cứ ngắm đã nhé.

5/2/2010

Trước khi tiếp tục, tôi xin khuyến nghị các bạn một việc quan trọng:

TUYỆT ĐỐI KHÔNG TÌM CÁCH ÁP DỤNG KIỂU PHÂN TÍCH TRÊN ĐÂY VÀO THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY

Chúng ta mới đang ở đầu phần 7. Đến cuối phần 7 em sẽ giải thích lý do.

Tôi xin nhấn mạnh lại 2 ý quan trọng bởi cái mà chúng ta cần, mọi lúc mọi nơi, là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình tư duy. Đứng trước một sự vật cực kỳ phức tạp như thị trường chứng khoán, nếu không tự hình thành cho mình một sợi chỉ đỏ dẫn đường, ta sẽ rất dễ lạc đường, thậm chí là đi vào mê lộ.

Trong quá trình build-up sợi chỉ đỏ, một biểu hiện nữa mà ta cần tránh là “hái hoa vệ đường”. Mục tiêu của ta là cùng sợi chỉ đỏ đi hết con đường chứ không phải sà xuống ngắt hoa bên đường.

Cái đồ thị PVA trên, thực chất, chỉ là một bát bún riêu. Đừng chú ý vào nó mà hãy suy nghĩ thật kỹ về 2 điều tối quan trọng, tính tới thời điểm này:

  1. Giá, KLGD không diễn biến một cách ngẫu nhiên. Thậm chí, nó có thể bị điều khiển.
  2. Ta chỉ có thể nhận ra dấu vết của sự điều khiển khi KLGD diễn biến khác với lẽ thông thường.

Em đã nói về lẽ thông thường khi thị trường đang ở trong giai đoạn bullish.
Màn hình phẳng nhà em, với khả năng suy diễn đại tài (về mọi chuyện), đã thở ra ngay cái lẽ thông thường của thị trường bearish
Vì một số lý do, em không nhất trí với phương pháp suy diễn và kết quả suy diễn của màn hình phẳng nhà em nhưng do câu chuyện quá dài, lại không mấy liên quan đến thị trường bullshit, ý quên, bullish hiện nay nên em tạm gác nó sang một bên. Chỉ xin đưa ra đồ thị tuần 3 năm qua của VNI để chứng minh rằng: màn hình phẳng nhà em nói sai!
Các bác nghe để biết vậy thôi, đừng mách màn hình phẳng nhà em nhé
Để hối lộ các bác, em xin xì ra thêm một lý do nữa này: ta làm gì có kiểu chơi cài đặt stop-loss khắp nơi như Tây để khi giá xuống, mọi automated systems sẽ tự động “bấm nút”
Lần sau không nói xấu màn hình phẳng nữa. Tốn quà hối lộ lắm

Đi tìm sự khác thường ở chỗ nào và bằng cách nào?

Trong cuộc sống hàng ngày, các bạn luôn thấy mình hoàn toàn bình thường, đúng không? Ăn bình thường, ngủ bình thường, đi bình thường, làm việc bình thường. Ba chuyện linh tinh cũng .. bình thường.

Vậy nên, khi các bác đi khám sức khỏe, mấy ông bà bác sỹ thường bảo các bác làm những việc không bình thường để phát hiện ra sự bất thường trong sức khỏe của các bạn, nếu có. Thí dụ, họ bắt các bác chạy thật nhanh, sau đó đo điện tim hoặc bắt các bác nhịn đói, sau đó nội soi v..v và v..v.

Ta đã đồng ý với nhau rằng: thị trường, bao gồm cả giá và khối lượng, có thể bị điều khiển bởi những thế lực rất lớn (mọi thị trường trên thế giới đều thế, không chỉ riêng Việt Nam đâu).

Ta cần phải đồng ý với nhau tiếp rằng:

  • Vì họ là những thế lực lớn nên lượng mua và lượng bán cũng phải lớn.
  • Vì họ là thế lực lớn và là dân chuyên nghiệp nên họ phải make money. Họ sẽ cố gắng mua làm sao cho rẻ nhất và bán làm sao cho đắt nhất (tính cho một chu kỳ kinh doanh chứ không phải tính cho 1-2 ngày, thậm chí 1-2 tuần).
  • Họ sẽ không thể mua rẻ – bán đắt nếu như không có chúng ta, đối tượng để họ manipulate. Để lừa được ta mua đắt và bán rẻ, họ phải hiểu tâm lý của ta. Chỉ khi hiểu tâm lý của ta, họ mới biết phải “nhử” như thế nào (để ta nhào vào mua) và “rung” kiểu gì (để ta lao ra bán).

Chắc không bạn nào phản đối 3 cái trên đây.

Từ ý thứ hai, tôi suy ra rằng, họ sẽ hoạt động tích cực nhất tại vùng gần đáy và gần đỉnh. Ngoài ra, trên đường đi từ đáy lên đỉnh hoặc từ đỉnh xuống đáy, họ sẽ gặp các loại cản. Nếu không ra tay xử lý, họ sẽ không thể đi tiếp để thu lợi cao nhất. Tức là, hệt như khi ta đi khám sức khỏe, ta phải theo dõi họ ở những chỗ mà họ chắc chắn sẽ hoạt động khác với nhịp thường ngày.

Tóm lại: nên đi tìm sự khác thường trong hoạt động của họ tại những vùng mà ta cho là gần đáy, gần đỉnh, gặp cản hoặc có thể break ra khỏi môi trường tích lũy.

Từ ý thứ nhất, tôi suy ra rằng lượng mua và bán của họ sẽ cùng lúc tạo ra KLGD lớn và quan trọng hơn cả: sự dao động giá. Vì vậy, để tìm mối quan hệ giữa giá và khối lượng, ta phải xem đồ thị bar hoặc đồ thị nến. Đồ thị line chẳng giúp ích được gì.

Bây giờ thì các bạn đã tin rằng: Chuyển sang sử dụng đồ thị nến hoặc đồ thị bar thay cho đồ thị line.

Từ ý thứ ba, tôi suy ra rằng, để phân tích hành động của họ, tôi phải hiểu tâm lý của chính mình, con gà gô của thị trường chứng khoán và con gà sống thiến của gia đình. Mình phải hiểu diễn biến giá như thế nào sẽ làm ta tham nhất và diễn biến giá như thế nào sẽ làm ta sợ nhất. Trên cơ sở đó, tôi mường tượng các techniques của họ. Nếu đồ thị mà tôi xem cho thấy diễn biến khớp với techniques mà tôi mường tượng thì…

Tôi lảm nhảm dài như thế, các bác chắc chán lắm rồi.

Tôi tóm tắt lại thành các điểm chính cho dễ nhớ nhé:

  • Chú trọng tìm sự khác thường tại những vùng mà ta cho là gần đáy, gần đỉnh, gặp cản hoặc có thể break ra khỏi môi trường tích lũy.
  • Không thể phân tích KLGD một cách độc lập mà phải đưa nó vào trong mối quan hệ với dao động giá, tức là phải xem đồ thị bar hoặc đồ thị nến.
  • Techniques mà MMs và BBs sử dụng được xây dựng dựa trên sự hiểu biết về tâm lý của bầy gà (gọi “cừu” cũng được). Ta chính là gà và vì vậy, ta phải hiểu chính ta trước khi muốn hiểu MMs và BBs.

Bây giờ, mời quay lại cái đồ thị tuần của PVA ở trên. Các bác sẽ thấy các ý được thể hiện trong các chú giải như thế nào? Để kết thúc phần này, tôi xin đặt 1 câu hỏi: Vì sao tôi không sử dụng chart ngày mà lại sử dụng 2 cái chart tuần ở phần này?

Một vài ví dụ về mối quan hệ giữa KLGD và dao động giá

Tại phần trên, ta đã thống nhất với nhau rằng: Nên để ý tìm sự khác thường tại những vùng mà ta cho là gần đáy, gần đỉnh, gặp cản hoặc có thể break ra khỏi môi trường tích lũy. Ta cũng đồng ý với nhau rằng: Không thể phân tích KLGD một cách độc lập mà phải đưa nó vào trong mối quan hệ với dao động giá.

Vậy thế nào là khác thường?

Đó là, đang trong xu thế tăng, giá tăng rất mạnh mà KLGD không tăng theo, hoặc KLGD tăng rất mạnh, giá cố vươn lên độ cao mới nhưng kết cục lại lình xình, hoặc giá cố vươn lên độ cao mới nhưng dao động rất nhỏ, KLGD yếu.

  • Trường hợp thứ nhất được gọi là các cú đánh thốc (up-thrust).
  • Trường hợp thứ hai là phân phối đỉnh (có thể kéo dài 2-3 ngày nếu cần phân phối số lượng lớn).
  • Trường hợp thứ ba, các bác biết rồi, được gọi là “cò không tiến” (no-demand)

Gặp cản, phá cản mà KLGD không có gì đột biến.

Đang trong xu thế xuống, KLGD đang giảm dần bỗng dưng tăng nhè nhẹ. Tất cả đều là sự khác thường.

Tại phần trên, ta cũng đã đưa ra giả thiết về việc techniques mà MMs và BBs sử dụng được xây dựng dựa trên sự hiểu biết về tâm lý của bầy gà. Gà thì nhiều tâm lý lắm nhưng nổi nhất là tâm lý .. sợ lỗ (giống tôi ^^).

Vì sợ lỗ nên khi giá giảm, gà thường là không bán ra bởi bán ra là lỗ thật, nắm giữ thì còn hy vọng là giá sẽ lên trở lại, ít nhất là hòa vốn. Thế nhưng, tệ một nỗi, đến khi giá đã giảm rất sâu thì chỉ cần thêm một cú sụt mạnh là gà thôi hát bài ca hy vọng. Nhắm mắt nhắm mũi .. cắt.

Do gà chỉ mong hòa vốn nên khi giá vòng lên đi qua chỗ gà ngồi, nếu để giá lình xình bay lượn trước mặt gà, thể nào gà cũng bán. Muốn gà không bán, phải đi qua thật nhanh, tạo cho gà cảm giác “còn lên nữa”. Cho nên, khi gặp cản, ta thường thấy các cú đánh thốc (up-thrust).

Do gà rất sợ các cú sụt mạnh sau khi giá đã giảm khá sâu nên sau khi tạo xong đáy 1, giá thường vòng lên một tí rồi sụt xuống đáy 2 thấp hơn đáy 1. Nếu đáy 1 gà chưa nhả thì đáy 2 tới 90% là nhả.

Đáy 2 ấy, người ta gọi là panic low, được sinh ra để rũ gà.

Nhưng thôi, lảm nhảm mãi tôi thấy cũng chán. Ta chuyển qua ngắm cái đồ thị nhé.

Tôi tìm mãi mới được một cái đồ thị có đầy đủ cả đánh thốc tại đỉnh, đánh thốc tại cản, phân phối đỉnh, no-demand, panic low v..v. Để bảo đảm tính khách quan, không gây ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của các bác, tôi xóa hết các dữ liệu liên quan, chỉ để lại dao động giá và khối lượng.

Khi xem đồ thị này, cần lưu ý:

  • Để ý so sánh KLGD của một ngày với KLGD của những ngày trước đó và sau đó.
  • Đặt KLGD trong mối quan hệ với dao động giá, cụ thể là hôm đó giá lên hay xuống, trong ngày dao động thế nào, nhiều hay ít, đóng cửa ra sao.

Tôi sẽ thử bình luận từng ngày một. Để dễ theo dõi, tôi đánh số thứ tự các ngày từ 1 đến 95. Tôi xin nhấn mạnh:

  • Bình luận này chỉ để làm rõ phương pháp VSA (Volume Spread Analysis) mà em đã nói ở phần trước.
  • Bình luận việc gì sau khi nó đã xảy ra thì chả có gì là thách thức cả. Các cụ gọi là “nói vuốt đuôi”. Cho nên, nếu có đúng, cũng chẳng có gì đáng khen.
  • Bình luận này mang nặng tính chủ quan, dựa trên các assumptions của phương pháp VSA. Nó không phải là bình luận duy nhất.
  • Nhìn từ một góc khác, hoặc sử dụng một phương pháp khác, có thể có bình luận khác.

Ta bắt đầu nhé.

Nến số 01: Dấu hiệu xấu đầu tiên. Mở cửa cao hơn đỉnh của ngày hôm trước, sau đó nỗ lực vươn lên thử độ cao mới nhưng ngay lập tức bị đè xuống bởi lượng bán rất lớn. Cuối cùng đóng cửa ở mức thấp nhất trong ngày, tạo nến đỏ.

04: Dấu hiệu xấu thứ hai. Mở cửa cao hơn đóng cửa ngày hôm trước, vươn lên thử lại độ cao của ngày số 1, lại bị đè xuống. Đóng cửa ở mức thấp nhất trong ngày, thậm chí thấp hơn cả ngày hôm trước và ngày số 1. KLGD khá lớn.

05: Đặc biệt xấu. Lần thứ 3 vươn lên nhưng lượng bán quá mạnh nên cuối ngày đành phải đóng cửa ở mức thấp.
Bình luận: Cao độ của các ngày 1-4-5 đã tạo thành “vùng bán” (selling zone, cản trên). Mọi nỗ
lực đi tiếp đều phải tìm cách vượt qua selling zone này. Với một selling zone dày đặc như vậy, chỉ có thể vượt qua và tiếp tục rally nếu có sự chuẩn bị đầy đủ, kỹ càng

07: Test bằng cách cho sụt nhanh qua cản xem động tĩnh thế nào. Kết quả: KLGD ở mức vừa phải, thậm chí là thấp so với mấy ngày trước đó. Đám đông vẫn bán tín bán nghi, chưa chịu bán.

08: Cho sụt tiếp cú nữa. Lần này có kết quả. Lượng bán bung ra nhiều. Smart money vào cuộc bởi KLGD tăng, đóng cửa tuy vẫn thấp hơn mở cửa nhưng tăng khá so với mức thấp nhất trong ngày. Một cú absorb điển hình. Cần test tiếp để confirm.

09: Mở cửa thấp hơn đóng cửa ngày hôm trước để tạo tâm lý yếu. Trong phiên cho sụt tiếp (sâu hơn cả mức thấp nhất của ngày hôm trước) để test cung. Thành công bởi KLGD giảm, có thể cho lên.

10: Test lần cuối cùng. Mở nhích nhẹ, trong phiên yếu dần, đóng cửa thấp hơn mở cửa nhưng không thấy cung.
Bình luận: Với một selling zone còn treo lơ lửng ngay phía trên, cú test này hơi đơn giản. Lượng cung absorb được vào ngày thứ 8 là không đáng kể. Trong bối cảnh đó, có 2 lựa chọn. Một là để thị trường nguội dần, chờ thời cơ mới. Hai là tạo cú thúc (thrust) để nhanh chóng băng qua selling zone.

11-14: Người ta chọn phương án 2, liên tục tạo gap để nhanh chóng vượt qua selling zone! KLGD tuy tăng nhưng rõ ràng là không mạnh. Cú thrust đã thành công nhưng hiểm nguy luôn chực chờ bởi phía sau (selling zone) là cả một đạo quân súng ống sẵn sàng, có thể nã đạn vào lưng “quân ta” bất cứ lúc nào.

15. Dấu hiệu xấu. Nỗ lực vươn lên tạo đỉnh mới thất bại bởi lượng bán quá lớn (xem KLGD). Đóng cửa ở mức thấp nhất trong ngày.

16. Một cú đánh thốc để tạo tâm lý “tích cực”. Rất tiếc là giá tăng rất mạnh nhưng KLGD không tăng, thậm chí giảm nhẹ. Dấu hiệu xấu thứ hai.

17: Tiếp tục xấu. Vươn lên tạo new high nhưng lại không thể đóng cửa ở nửa trên của nến. Suy ra, lượng bán cực kỳ lớn.

18: Cực xấu. KLGD tăng rất mạnh nhưng đóng cửa thấp hơn nến 17. Suy ra, bán là chính.

20-21: Xác nhận tình hình xấu. Điểm tăng nhưng KLGD không tăng. Đặc biệt, dao động giá khá nhỏ bởi cứ tăng là bị bán. 2 nến này là điển hình của tình trạng không có cầu (no-demand).

23: Tạo đỉnh. Mở giá tăng mời gọi, sau đó tạo new high, KLGD kỷ lục, dao động giá cực lớn, đóng
cửa ở mức thấp nhất trong ngày.
Bình luận: Sau nhiều dấu hiệu xấu, cần cẩn thận với các cú đánh thốc với KLGD thấp như nến số 16, nhất là khi sau nến đó xuất hiện tình trạng no-demand (giá không tăng được, KLGD lình xình)

25-27: 2 cú sụt nhanh để khóa đường xuống Hoa Quả Sơn (lock in). KLGD tăng, đóng cửa cao hơn mức thấp nhất trong phiên cho thấy khả năng dân phe hoạt động mạnh. Các cú hồi với KLGD thấp ở nến 26-28 cho thấy rõ tình trạng no-demand.

29-30. Sụt rất nhanh qua cản. KLGD không tăng. Nhân dân anh hùng cương quyết tử thủ.

31-32: KLGD lèo tèo. No-demand! Y như rằng nến 33 đỏ.

35-40: KLGD lèo tèo dù nến 36 tăng rất mạnh. Tiếp tục no-demand!

42: Cố gắng vươn lên nhưng thất bại. Đóng cửa thấp hơn mức cao nhất trong ngày, KLGD tăng. Suy ra, bán là chính.

44-45: Sụt rất mạnh nhưng KLGD giảm. Ai cũng đợi chạm cản bật lên.

46: Chờ đợi vô vọng. Giá xuyên cản, dao động giá rất lớn, KLGD cũng rất lớn, có người quyết bán.

47: Sụt rất mạnh, KLGD giảm. Liệu có ai dám mua sau khi nhìn thấy nỗ lực khởi nghĩa bị đập tan ở nến 46?

48: Một nến rất thú vị. KLGD tăng vọt, đóng cửa tốt nhưng dao động giá quá lớn, đóng cửa lại thấp hơn nhiều so với đỉnh nên nhiều khả năng đây là khối lượng giả, được tạo ra bởi dân phe.

49: Xác nhận khối lượng giả của nến 48. Nến xanh nhưng KLGD giảm. Lại no-demand. Ngay sau đó (nến 50) là đỉnh.

51-55: KLGD giảm dần. Thị trường nguội dần. Đặc biệt chú ý nến 54, điển hình của no-demand.

56-57-58: Tạo đáy 1, KLGD tăng, bắt đầu bán. Do KL khá hơn các nến từ 52 đến 55 nên có lý do để nghi ngờ rằng smart money đã vào. Đặc biệt chú ý hai nến 57-58 có KL nhỏ hơn nến 56, lực bán giảm dần.

59-60: vòng lên test cung. Không thấy.

61-62: Cú test quyết định, sụt rất mạnh tạo panic low. KL không bằng 56-57-58 cho thấy lực bán đã
cạn. Cuối ngày 62 nến xanh. Strong signal!

70-71:Hai nến quyết định, đặc biệt là nến 71. Tuy nhiên, nến 70 là nguy cơ tiềm ẩn.

72: Xấu. Tưởng nến 70 đã bắt hết. Nào ngờ vẫn còn và còn khá nhiều. Tình hình không thuận.

73: Lặp lại cú đánh thốc của nến 16 sau khi nhận thấy tình hình không thuận. Chú ý KLGD giảm mạnh, hệt như nến 16.

74-77: Lặp lại các nến 17-23. Để ý các mức cao nhất trong ngày và mức đóng cửa (nêu cao để đập)

87-95: No-demand! Khó đi xa nhưng cũng đã nguội kha khá. Liệu thời điểm đã chín muồi cho một cú test ra trò? Hay là đánh thốc lên?

Tôi chịu.

Bác nào biết bảo tôi với nhé!

Lời cuối về khối lượng

Các bạn ạ, các bạn có nhận thấy điều gì không, có nhận thấy điểm mâu thuẫn nào không?

He he .. tôi đang rủ các bác uống thuốc độc mà các bác không biết.

Từ đầu tới giờ, sợi chỉ đỏ xuyên suốt của em là “đi tìm trend” trong các khung thời gian.

Nói về cản trên, cản dưới và pull-back là để giúp chúng ta suy nghĩ về điểm khởi đầu POSSIBLE, điểm kết thúc POSSIBLE cũng như độ dài POSSIBLE của any trend. Nói về khối lượng cũng nhằm mục đích ấy.

Như tôi đã nói, để phân tích bất kỳ sự việc nào, bao giờ cũng có nhiều trường phái. VSA chỉ là một trong nhiều trường phái phân tích khối lượng. Đừng để VSA, cùng với ví dụ của tôi, làm các bạn quên đi mục tiêu chính của mình là “xây dựng một phương pháp phân tích khối lượng phục vụ cho việc tìm trend”.

Các bạn à, sau khi xem 2 đồ thị mà tôi đưa vào (đồ thị tuần của PVA và đồ thị vô danh ở trên), hãy cố gắng quên hết và quên thật nhanh các bình luận linh tinh. Thay vào đó, hãy tập trung nắm cho được cái hồn của phương pháp VSA, cô đặc nó lại thành hệ nguyên tắc kết nối với nhau bằng logic và sử dụng hệ nguyên tắc đó để tự phân tích, tự dự đoán, tự kiểm nghiệm rồi tự hoàn thiện.

Lúc nào được như Trương Vô Kỵ ngửa mặt lên trời cười hà hà bảo Thái sư phụ: “Con quên hết rồi” là lúc đó thành công.

Nếu các bác sa đà vào những bình luận linh tinh của tôi (kể cả các bạn tham khảo nhiều quan điểm khắp diễn đàn, room tư vấn,…) mà quên đi sợi chỉ đỏ, đó là tôi thất bại.

Điểm yếu nhất của phương pháp VSA chính là assumption cơ bản của nó: thị trường có thể bị MMs và BBs điều khiển. Nó thực hành phân tích khối lượng dựa trên giả định rằng thị trường là một cá thể có tư duy và ta đang cố gắng để hiểu tư duy của nhân vật ấy.

Đã có vô vàn bài viết phê bình giả định này. Đọc bài nào cũng thấy .. có lý không chịu được. Thực ra, khi thị trường đã đủ lớn, không một thế lực nào có thể control được thị trường, muốn lên là lên, muốn xuống là xuống. MMs và BBs thời nay hiểu rõ điều đó nên họ uốn theo thị trường chứ không tìm cách control thị trường.

Vậy nên, khi thực hành phương pháp VSA, các bác phải hiểu điểm yếu của nó để tìm cách khắc phục. Đừng cho nó là “đúng quá” hay “duy nhất đúng” mà lên Hoa Quả Sơn có ngày.

Ngoài điểm yếu về phương pháp luận, VSA còn một số điểm yếu sau đây:

  • Khả năng áp dụng tại TT Việt Nam bị hạn chế bởi yếu tố biên độ giao dịch. Thí dụ, một CP tại NYSE có thể có một cú up-thrust 9.3% nhưng ở HOSE, ta sẽ không bao giờ nhìn thấy một cú up- thrust như thế. Cái hồn của VSA là khối lượng & dao động giá. Dao động giá bị khống chế thì thật là .. hết cả hồn.
  • Việt Nam không có thói quen và cũng không có công cụ để cài stop-loss nên thường là không có các dao động giá được sinh ra để bắt stop-loss. Khi áp kỹ năng VSA vào Việt Nam, vì vậy, phải có sự điều chỉnh phù hợp. Nếu không, sẽ không thể hiểu vì sao tại điểm X lẽ ra phải có một nến đỏ dài (hoặc một nến xanh dài) + KLGD lớn mà lại không có.
  • Cuối cùng, như các bác đã thấy, áp VSA vào đồ thị là áp phân tích CHỦ QUAN cho một việc ĐÃ XẢY RA RỒI. Mọi giai đoạn UP và DOWN đều đã được thể hiện trên đồ thị. Vì vậy, một nến ngắn ngủn + KLGD yếu trước giai đoạn DOWN sẽ được hiểu ngay là no-demand. Giả sử như nến đó xảy ra ngày hôm nay, các bác có dám chắc đó là no-demand?

Vì vậy, hãy nắm bắt cho được nguyên lý vận hành của VSA, hiểu nó từ cả 2 chiều để rồi tự hoàn thiện thành một phương pháp phù hợp với TT Việt Nam. Đừng sa đà vào các bình luận cụ thể của tôi, các bạn nhé.

Các bác phân tích được KLGD thì MMs và BBs cũng phân tích được.

Thông tin họ nhiều hơn các bác (em nói rồi). Kỹ thuật họ thạo hơn các bác. Thông tin kết hợp với kỹ thuật tạo ra vô vàn kiểu đánh khác nhau.

Điện Biên Phủ có thể là trận đánh lừng danh nhưng đánh Sài Gòn mà lại bê nguyên xi kiểu đánh của Điện Biên Phủ thì thất bại là điều chắc chắn. Đã gọi là đánh thì chả trận nào giống trận nào. Vì vậy, càng sa đà chiêu thức, càng dễ bị lừa.

Tóm lại, nếu các bác không chú ý phương pháp mà lại sa đà vào các bình luận linh tinh của tôi, đó là tôi hại các bạn. Phù, rốt cuộc rồi cũng linh tinh xong phần khối lượng, thách thức to lớn nhất của PTKT. Giờ ta chuyển sang phần tiếp theo.

Phần chán nhất và vớ vẩn nhất của PTKT: Indicators and Oscillators.

Nhưng không nói gì về nó thì lại không được coi là chiên da. Mà em thì háo danh, thích được gọi là chiên da lắm. ^^

Với các bác thích đọc thêm về VSA, tôi xin giới thiệu 2 cuốn sách của Tom Williams (đọc cuốn nào cũng được vì nội dung cũng như nhau thôi):

  1. The Undeclared Secrets That Drive the Stock Market
  2. Master the Markets

8. Basic Indicators and Oscillators

 

About the author

Ninh Huỳnh

Công việc chính tư vấn tài chính cá nhân (lĩnh vực chứng khoán), thích làm web, marketing online. Mục tiêu tự do tài chính trước tuổi 30 mảng online.

Leave a Comment