Kinh nghiệm đầu tư

Nhận diện cổ phiếu rủi ro trên TTCK Việt Nam

Không có cổ phiếu cũng như ngành kinh doanh nào là không có rủi ro. Bên cạnh rủi ro thị trường, mọi cổ phiếu còn tiềm ẩn rủi ro cá biệt cho từng ngành nghề, tuy nhiên lợi nhuận từ đầu tư vẫn có thể bù đắp cho các rủi ro này. Một trong những kinh nghiệm đầu tư chứng khoán là bạn cần phải biết rõ những rủi ro tiềm ẩn trước khi mua một cổ phiếu và có kế hoạch dự phòng khi thị trường hỗn loạn.

Phân loại rủi ro

Rủi ro là sự không chắc chắn, sự bất ổn của những kết quả trong tương lai. Hoặc khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại tài chính hay những kết quả bất lợi. Rủi ro có 2 loại:

Rủi ro hệ thống (rủi ro thị trường):

  • Rủi ro hệ thống liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến nền kinh tế hay ngành nghề nhất định.
  • Rủi ro hệ thống bao gồm: lãi suất, lạm phát, chiến tranh, thiên tai…
  • Rủi ro hệ thống không thể tránh được bằng đa dạng hóa danh mục.

Rủi ro phi hệ thống:

  • Rủi ro do các yếu tố nội tại của một công ty gây ra, hoặc rủi ro trong một ngành cụ thể cũng như những doanh nghiệp trong ngành đó, hoặc rộng hơn là rủi ro gắn liền với một lớp tài sản nào đó.
  • Rủi ro phi hệ thống có thể được giảm thiểu bằng đa dạng hóa danh mục đầu tư.

Nhận diện rủi ro cổ phiếu

LOẠI 1: GÓP VỐN BẰNG TÀI SẢN

Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán để nhận diện cổ phiếu rủi ro trên TTCK Việt Nam

Ví dụ: Công ty Cổ phần Khai thác và Chế biến Khoáng sản Bắc Giang (HOSE) – BGM

  • Công ty được thành lập năm 2008 với vốn điều lệ 600 triệu đồng.
  • Năm 2010 công ty nâng vốn điều lệ lên thành 160 tỷ đồng thông qua góp vốn bằng tài sản là các mỏ khoáng sản tại Bắc Giang, trong đó giá trị các mỏ được đẩy lên rất cao so với giá trị thực tế thông qua quá trình định giá (lúc này chưa có đơn vị định giá độc lập.
  • Vì vậy, mức vốn điều lệ 160 tỷ được đảm bảo bằng các tài sản có giá trị rất thấp nên giá trị cổ phiếu cũng giảm với tỷ lệ tương ứng.
  • Hiện nay việc góp vốn bằng tài sản đã được kiểm soát chặt chẽ hơn và quá trình định giá cần có một đơn vị định giá độc lập, có chức năng thẩm định giá do Bộ tài chính cấp, tuy nhiên việc góp vốn bằng tài sản vẫn ẩn chứa nhiều rủi ro cho nhà đầu tư do quá trình định giá không được công khai minh bạch.
LOẠI 2: TĂNG VỐN RỒI MUA BÁN SÁP NHẬP – MUA TS

Tương tự như tăng vốn bằng tài sản thì trường hợp này có khác hơn một chút là doanh nghiệp sẽ tiến hành tăng vốn trước bằng cách phát hành cho cổ đông chiến lược, hoặc riêng lẻ. Sau đó dùng tiền thu được từ đợt phát hành đi mua doanh nghiệp khác hoặc mua tài sản.

Sau quá trình này thì số tiền tăng vốn được chuyển ra bên ngoài và đổi lại công ty nhận lại một tài sản có giá trị thấp hơn.

Ví dụ: Công ty cổ phần Bamboo Capital (HOSE) – BCG

  • Công ty được thành lập năm 2011 với vốn điều lệ 500 triệu đồng.
  • Năm 2012 công ty nâng vốn điều lệ lên thành 21.6 tỷ đồng.
  • Năm 2015 có 2 lần nâng vốn lên lần lượt là 43 và 407 tỷ đồng.
  • Năm 2016 tăng vốn điều lệ lên hơn 1.000 tỷ đồng.
  • Sau mỗi lần tăng vốn, BCG dùng phần lớn số tiền để mua lại các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả.
  • Đến thời điểm hiện tại, BCG có tổng cộng 7 công ty con và 14 công ty liên kết nhưng trong 9 tháng đầu năm 2016, BCG chỉ đạt 7.1 tỷ đồng LNST cho cổ đông công ty mẹ.
LOẠI 3: VỐN ẢO

Vốn điều lệ công ty tăng đột biến, số tiền tăng vốn sẽ được dùng để ứng trước cho người bán, tạm ứng, hoặc ủy thác đầu tư….bản chất là đưa tiền ra ngoài. Vì vậy việc tăng vốn bản chất chỉ phát hành giấy ra bên ngoài chứ không có dòng tiền thật.

Ví dụ: KVC, KHB, ROS…

  • KVC tăng vốn 330 tỷ từ 165 lên 495 tỷ đồng, sau khi tăng vốn doanh nghiệp trả trước cho người bán 220 tỷ và tạm ứng 100 tỷ, tổng cộng 320 tỷ.

CTCP Sản xuất Xuất nhập khẩu Inox Kim Vĩ (HNX)

Công ty Cổ phần Nông nghiệp và Thực phẩm Hà Nội – Kinh Bắc (HNX)

CTCP Xây dựng FLC Faros (HOSE)

LOẠI 4: SỞ HỮU CHÉO NHIỀU LỚP

Với cùng 1 “Tài sản” nhưng nhiều công ty sở hữu qua nhiều cấp khác nhau, như vậy thay vì 1 cổ phiếu được đảm bảo bằng 1 tài sản thì ở đây với 1 tài sản đảm bảo cho n cổ phiếu.

Công ty ghi nhận báo cáo tài chính hợp nhất thì công ty nào cũng lãi nhưng bản chất chỉ có 1 dòng tiền lợi nhuận.

Các công ty này thường niêm yết để nâng giá trì vốn hóa thị trường.

Ví dụ: HHS, FLC, MSN

Công ty Cổ phần Tập đoàn MaSan (HOSE)

LOẠI 5: LỢI NHUẬN ẢO TỪ GD VỚI CÁC BÊN CÓ LIÊN QUAN

Công ty hạch toán lợi nhuận bằng cách bán tài sản (thường là bất động sản, hoặc vốn góp tại cty con) cho công ty hoặc cá nhân có liên quan, giá trị chuyển nhượng thường cao hơn giá trị thật của tài sản gấp nhiều lần.

Đa số các công ty sẽ ghi nhận doanh và khoản phải thu, chứ không phát sinh dòng tiền thật.

Thoạt nhìn bước đầu thì chúng ta thường cho rằng có lợi cho doanh nghiệp vì bán được giá cao hơn so với giá trị thật. Tuy nhiên, bản chất cổ đông sẽ bị thiệt hại khá nhiều, vì: (1)Mục đích của người chủ doanh nghiệp là muốn book lợi nhuận ảo để phục vụ mục đích riêng như: phát hành thêm cổ phiếu, thoái vốn tại doanh nghiệp đó… (2) Thực tế dòng tiền về doanh nghiệp là không có, nhưng doanh nghiệp vẫn phải lấy tiền mặt đi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

Ví dụ: HQC, ITA

Năm 2010 HQC bán dự án HQC MeKong để hạch toán lợi nhuận, sau đó phát hành tăng vốn.

Năm 2010 ITA bán dự án nhiệt điện Kiên Lương cho công ty liên kết, hạch toán gần 1.000 tỷ LN nhưng nằm dưới dạng phải thu, giá chuyển nhượng cao hơn gấp 5 lần giá trị định giá.

LOẠI 6: LỢI NHUẬN ẢO TỪ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Công ty có lợi nhuận cao bất thường, chủ yếu đến từ các hoạt động thương mại.

Các dấu hiệu nhận biết:

  1. Tỷ suất lợi nhuận gộp cao bất thường: gấp nhiều lần lợi nhuận của doanh nghiệp cùng ngành.
  2. Khoản phải thu lớn: thường chiếm khoảng 50% doanh thu trở lên.
  3. Tài sản cố định không có, các tài sản còn lại chủ yếu là khoản phải thu, tạm ứng hoặc trả trước.
  4. Hầu như không có giao dịch với ngân hàng.
  5. Chi phí bán hàng rất thường.

Ví dụ: TTH

  • Trong tổng tài sản 247 tỷ thì có đến gần 200 tỷ là khoản phải thu các loại.
  • Khoản phải phu từ khách hàng chiếm 50% doanh số của công ty, đây là tín hiệu bất thường.
  • Trong tổng tài sản 247 tỷ đồng thì tài sản cố định chỉ có 700 triệu đồng.
  • Trên báo cáo KQKD, gross margin của công ty lên tới 52.5% trong khi công ty chỉ làm thương mại.
  • Không có quan hệ với bất kỳ ngân hàng nào.
  • Số lượng cổ phiếu lưu hành bên ngoài là 55%, trong 3 ngày giao dịch đầu tiên khớp hết.
  • khối lượng này: khả năng trao tay hoặc cổ đông.
  • 9 tháng EPS 5.700?

Kinh nghiệm đánh giá nhanh cổ phiếu

Báo cáo nên đọc:

  • Báo cáo tài chính, bao gồm: Bản CĐKT, KQKD và quan trọng nhất là bản thuyết minh báo cáo tài chính.
  • Đọc bản cáo bạch, báo cáo thường niên để đánh giá hoạt động.
  • Ưu tiên đọc báo cáo kỳ 6 tháng và 1 năm vì có soát xét và kiểm toán, nếu kỳ báo cáo không trùng kỳ soát xét và kiểm toán thì phải đọc kèm cùng với báo cáo soát xét và kiểm toán gần nhất.
  • Xem xét tổng thể ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động để có hệ quy chiếu tốt nhất.

Cách đọc báo cáo:

  • Đối với Bản cân đối kế toán: Nên xem kỹ tài sản nào chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, truy xét nguồn góc và đánh giá mức độ sinh lợi từ tài sản đó.
  • Đối với Báo cáo kết quả kinh doanh: Đánh giá tăng trưởng doanh thu từ hoạt động chính, tỷ suất lợi nhuận gộp để đánh giá khả năng cạnh tranh.
  • Đối với Bản thuyết minh báo cáo tài chính: Đây là báo cáo quan trọng nhất, cần đọc kỹ và chi tiết.
  • Báo cáo dòng tiền: đọc kỹ dòng tiền từ hoạt động kinh doanh.

About the author

Ninh Huỳnh

Công việc chính tư vấn tài chính cá nhân (lĩnh vực chứng khoán), thích làm web, marketing online. Mục tiêu tự do tài chính trước tuổi 30 mảng online.

Leave a Comment